Tìm hiểu về bệnh đái tháo đường thai kỳ


1/ Đái tháo đường thai kỳ là gì

Đái tháo đường (ĐTĐ) thai kỳ là một dạng của đái đường xảy ra trong quá trình mang thai. Cơ thể của bạn không sản xuất đủ Insulin để xử lý kịp thời thay đổi các hormone khi em bé lớn dần lên . Insulin giúp cở thể bạn cân bằng nồng độ đường (glucose) trong máu. Thiếu Insulin thì nồng độ glucose trong máu sẽ tăng lên.


--Tin tốt cho các chị em đang bị đái tháo đường thai kỳ đó là:

+ Em bé của bạn sẽ không bị đái tháo thường sau khi chào đời

+ ĐTĐ thai kỳ có thể điều trị được và bạn có thể sinh ra bé hoàn toàn khỏe mạnh

2/ Đái tháo đường thai kỳ có ý nghĩa như thế nào với thai nhi

Nếu không chẩn đoán hay được điều trị Đái tháo đường thai kỳ sẽ dẫn đến nồng độ glucose máu bạn tăng cao. Điều này làm tăng nguy cơ thai của bạn. Đứa trẻ của bạn sẽ đối mặt với nhiều nguy cơ như:
- Tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh
- Tiểu đường về sau và thiểu năng tâm – thần kinh
- Thai to dễ bị sang chấn thương như gãy xương đòn, trật khớp vai
- Dễ suy hô hấp do insulin tăng cao làm kháng corticoids, dẫn đến giảm chế tiết surfactans, giảm sự trưởng thành của phổi; dễ bị rối loạn chuyển hóa sau sinh như hạ đường huyết, hạ canxi huyết, tỉ lệ tử vong chu sản tăng 2-5 lần

3/ Đái tháo đường có ý nghĩa như thế nào đối với bạn
- Được chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ đồng nghĩa với việc bạn sẽ cần được chăm sóc y thế thường xuyên để kiểm soát đường huyết vào mức tiêu chuẩn. Như vậy sẽ giúp bạn tránh được những biến chứng trong chuyển dạ và sau sinh.
- Sau khi sinh, đường máu của bạn thường sẽ trở về bình thường. Tuy nhiên bạn sẽ có nguy cơ ĐTĐ thai kỳ cao hơn cho lần mang thai tiếp theo và nguy cơ phát triển ĐTĐ type 2 sau này.

4/ Các nguyên nhân, yếu tố gây Đái Tháo Đường thai kỳ
• Tuổi mẹ >=35
• Mẹ thuộc nhóm dân tộc nguy cơ cao (Aboriginal, Hispanic, Châu Á và Châu Phi)
• Mẹ bị béo phì (BMI>=25kg/m2)
• Mẹ từng sinh con co >= 4kg
• Mẹ điều trị thuốc corticosteroid
• Mẹ được chẩn đoán tiền ĐTĐ trước đó
• Mẹ bị ĐTĐ thai kỳ những lần mang thai trước
• Có cha mẹ, anh chị em ruột mắc ĐTĐ type 2
• Mẹ bị hội chứng buồng trứng đa nang hoặc bệnh gai đen ( dày sừng và tăng sắc tố da nếp gấp)

Tất cả thai phụ cần được đi khám sản phụ khoa và sàng lọc ĐTĐ thai kỳ từ 24-28 tuần tuổi thai

Tỷ lệ phụ nữ mang thai mắc ĐTĐ thai kỳ chiếm 3-20% các thai phụ , trung bình là 12%

5/ Chăm sóc và điều trị đái tháo đường như thế nào
+ Chọn chế độ ăn lành mạnh
    Ăn đủ 4 nhóm thức ăn và tăng lượng thức ăn bằng cách chia nhỏ bữa ăn đồng thời ăn dặm thêm bữa lỡ. Việc này giúp kiểm soát được đường huyết và cung cấp dinh dưỡng tốt nhất cho bạn và sự phát triển của thai.
+ Tăng cân thai kỳ hợp lý
   Mức độ tăng cân thai kỳ thay đổi tùy thuộc cân nặng của bạn trước khi mang thai
   Không khuyến cáo giảm cân
   Cần trao đổi với bác sĩ của bạn về mức độ tăng cân hợp lý trong thai kỳ của bạn
+ Hoạt động thể lực tích cực
    Hoạt động thể thực thường xuyên giúp bạn kiểm soát được đường máu. Ngoài ra còn giúp bạn:
    Tăng nguồn năng lượng
    Ngủ ngon giấc
    Giảm căng thẳng
    Giảm những khó chịu do thai
    Chuẩn bị cho sự sinh nở
    Giúp phục hồi vóc dáng nhanh hơn sau sinh
     Hãy trao đổi với bác sĩ của bạn về các loại hoạt động thể lực phù hợp và tần suất luyện tập
+ Kiểm tra đường máu tại nhà
    Việc kiểm tra đường máu tại nhà sẽ giúp bác sĩ của bạn theo dõi tốt hiệu quả điều trị
+ Tiêm INSULIN nếu cần
     * Khi chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể lực không đủ điều chỉnh nồng độ đường máu thì bác sĩ sẽ khuyến cáo bạn tiêm Insulin đề điều trị trong suốt thai kỳ. Insulin sẽ làm hạ đường máu và giúp đảm bảo sức khỏe tốt cho thai của bạn.

     * Trong quá trình điều trị bạn sẽ được tư vấn và hỗ trợ bạn suốt thời gian mang thai bởi đội ngũ của chúng tôi gồm bác sĩ và điều dưỡng. Tuy nhiên người chăm sóc sức khỏe bạn tốt nhất chính là bản thân của bạn. Bạn cần nhận thức được đúng và đầy đủ tầm quan trọng của bệnh lý đái tháo đường thai kỳ , đồng thời tuân thủ tốt chế độ điều trị của bạn.

Lưu ý:
Sau khi sinh, việc tầm soát nguy cơ ĐTĐ type 2 cho bạn rất quan trọng: Bạn cần phải đi khám bác sĩ
   - Sau khi sinh 6 tuần đến 6 tháng
   - Trước khi mang thai tiếp theo
   -  Mỗi 3 năm hoặc gần hơn tùy thuộc yếu tố nguy cơ