Hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh


HẠ ĐƯỜNG HUYẾT SƠ SINH
1. KHÁI NIỆM
Hạ đường huyết là một trong những vấn đề thường gặp trong giai đoạn sơ
sinh, có thể thoáng qua trong giai đoạn đầu sau sinh. Tuy nhiên hạ đường huyết
dai dẳng có thể gây tổn thương não và để lại hậu quả lâu dài.



Hạ đường huyết sơ sinh được xác định khi Glucose huyết của trẻ dưới 2,6
mmol/L (47 mg/dL) (Theo Hiệp hội nhi khoa Mỹ)[1]
Trong một số tài liệu khác có đưa ra các giá trị cụ thể hơn [3]: hạ đường
huyết sơ sinh được xác định khi Glucose huyết thanh
- Dưới 2,2 mmol/L (40 mg/dL) trong 24 giờ đầu sau sinh với những trẻ
không có triệu chứng và dưới 2,5 mmol/L (45 mg/dL) với những trẻ có triệu
chứng.
- Dưới 2,8 mmol/L (50 mg/dL) sau 24 giờ tuổi
Trong tài liệu này chúng tôi sử dụng ngưỡng xác định hạ đường huyết
chung cho trẻ sơ sinh khi Glucose huyết thanh < 2,6 mmol/L.
2. NGUYÊN NHÂN
Hạ đường huyết có thể do giảm dự trữ Glycogen và hoặc tăng sử dụng
Glucose, tăng Insulin. Có nhiều nguyên nhân:
2.1. Hạ đường huyết do tăng Insulin
a. Do thay đổi chuyển hoá của mẹ:
- Truyền đường, thuốc trong thai kỳ
- Bệnh tiểu đường
b. Do di truyền bẩm sinh:
Đột biến gen mã hóa sự điều hòa bài tiết Insulin của tế bào Beta đảo tụy
như gen ABCC8, KCNJ11, SUR1, Kir6.2…
c. Tăng Insulin thứ phát
- Ngạt
- Hội chứng Beckwith-Wiedemann
- Mẹ điều trị thuốc Terbutaline
186
- Catheter động mạch rốn sai vị trí: dịch có nồng độ Glucose cao được
truyền vào động mạch chậu và động mạch mạc treo tràng trên ở vị trí T11- T12,
kích thích tụy tăng tiết Insulin
- Ngừng đột ngột dịch truyền Glucose cao
- Sau thay máu với lượng máu có nồng độ Glucose cao
- Khối u sản xuất Insulin (u đảo tụy), tăng sản tế bào Beta tiểu đảo
Langerhans.
2.2. Trẻ to so với tuổi thai:
Ngoài nguyên nhân do mẹ tiểu đường, có thể không xác định được
nguyên nhân. Là nhóm nguy cơ cao cần được sàng lọc hạ đường huyết.
2.3. Giảm sản xuất/ dự trữ Glucose:
- Chậm phát triển trong tử cung
- Đẻ non
- Chế độ dinh dưỡng không đủ năng lượng
- Cho ăn muộn
2.4. Tăng sử dụng và/hoặc giảm sản xuất Glucose
a. Stress chu sinh:
Nhiễm trùng, sốc, ngạt, hạ thân nhiệt, suy hô hấp, giai đoạn sau hồi sức
b. Rối loạn chuyển hoá bẩm sinh
- Carbohydrate (rối loạn chuyển hóa đường galactose, không dung nạp
đường fructose )
- Axit amin (bệnh siro niệu MSUD, bệnh nhiễm axit Methylmalonic máu)
- Axit béo (rối loạn chuyển hóa carnitine, thiếu AcylCoA dehydrogenase )
c. Rối loạn nội tiết:
- Thiếu hocmon tuyến yên/Glucagon/Cortisol/Adrenaline
d. Đa hồng cầu
e. Mẹ sử dụng các thuốc chẹn beta ( VD labetalol, propranolol)
3. CHẨN ĐOÁN
3.1. Lâm sàng
Các triệu chứng lâm sàng thường không đặc hiệu và có thể muộn
- Kích thích/ Run giật/ Co giật
187
- Li bì/ Ngơ ngác
- Tiếng khóc bất thường
- Thở rên/ Thở nhanh/ Cơn ngừng thở
- Vã mồ hôi
- Nhịp tim nhanh
- Hạ nhiệt độ
Trẻ sơ sinh cũng có thể có hạ đường huyết mà không có triệu chứng. Do
đó, chú ý hỏi bệnh tìm các thông tin đầy đủ và khám trẻ một cách toàn diện, đặc
biệt chú ý đến:
- Trẻ có các triệu chứng nặng( co giật, tím tái, suy hô hấp…) cần phải cấp
cứu ngay không?
- Tìm và xác định trẻ có nguy cơ hạ đường huyết để sàng lọc sớm: trẻ có
cân nặng khi sinh nặng cân hay quá nhẹ cân so với tuổi thai, trẻ sinh non hay già
tháng, trẻ cần điều trị ở NICU ( VD Ngạt, nhiễm trùng), con của mẹ tiểu đường,
mẹ được điều trị thuốc chẹn beta, trẻ có đa hồng cầu…
- Khám đầy đủ các cơ quan, chú ý khám thần kinh
3.2. Sàng lọc hạ đường huyết
Cần làm xét nghiệm Glucose huyết cho tất cả những trẻ sơ sinh có triệu
chứng và sàng lọc hạ đường huyết cần thực hiện cho những trẻ sơ sinh bị bệnh
và trẻ sơ sinh có nguy cơ.
Sàng lọc cần thực hiện ngay trong giờ đầu sau sinh, và tiếp tục theo dõi
thường quy trong thời gian tiếp theo.
3.3. Xét nghiệm cận lâm sàng
a. Xét nghiệm xác định chẩn đoán:
- Lấy máu xét nghiệm nồng độ Glucose huyết thanh cho xét nghiệm xác
định. Xét nghiệm cần được làm sớm để có kết quả chính xác. Lượng Glucose
máu sẽ giảm 0,8 – 1,1 mmol/L mỗi giờ nếu mẫu máu để ở nhiệt độ phòng.
- Xét nghiệm nhanh: Test Dextrostix. Lưu ý, lượng Glucose trong máu
toàn phần thấp hơn khoảng 15% so với Glucose huyết thanh và có thể thấp hơn
nữa khi có cô đặc máu.
Cần điều trị ngay khi có kết quả test nhanh này trong khi chờ chẩn đoán
xác định từ xét nghiệm sinh hóa ở phòng xét nghiệm. Test nhanh này cần thiết
trong quá trình theo dõi điều trị hạ đường huyết.
188
b. Xét nghiệm tìm nguyên nhân:
Cần làm cho trường hợp hạ đường huyết dai dẳng (khi hạ đường huyết
nặng có co giật hoặc thay đổi ý thức ở một trẻ không có bệnh gì khác hoặc trẻ
cần duy trì tốc độ truyền đường > 8- 10 mg/kg/phút để duy trì Glucose huyết
thanh trên 2,8 mmol/L và kéo dài trên 1 tuần [3])
- Insulin huyết thanh xét nghiệm đồng thời với Glucose huyết thanh
- Cortisol
c. Trường hợp hạ đường huyết dai dẳng với insulin huyết bình thường, cần xem
xét các xét nghiệm
- Hormone tăng trưởng (GH), ACTH, T4, TSH
- Glucagon
- Amino acid huyết thanh, niệu. Acid hữu cơ niệu
- Xét nghiệm gen
4. XỬ TRÍ
4.1. Xử trí ngay các tình trạng cần cấp cứu:
Như co giật, tím tái, suy hô hấp… nếu có.
4.2. Điều chỉnh đường huyết:
Mục tiêu duy trì Glucose huyết thanh ≥ 2,6 mmol/L trong ngày đầu sau
sinh và ≥ 2,8 mmol/L trong những ngày sau.
Điều chỉnh đường huyết được thực hiện từng bước tuỳ theo mức độ hạ
đường huyết, có hoặc không có triệu chứng như sau:
4.2.1. Điều chỉnh chế độ ăn:
Áp dụng cho mức Glucose huyết thanh từ 2 – 2,6mmo/L và không có
triệu chứng.
- Bú mẹ sớm ngay sau sinh. Trẻ có nguy cơ cần được cho ăn sớm ngay
trong giờ đầu sau sinh và sàng lọc Glucose huyết sau đó 30 phút.
- Nếu trẻ không thể bú mẹ thì vắt sữa và cho trẻ ăn bằng phương pháp
thay thế, lượng ăn đủ theo nhu cầu trong ngày.
- Có thể tăng cường bữa ăn 12 bữa/ngày.
- Theo dõi đường huyết trước ăn.
4.2.2. Truyền dịch:
- Chỉ định cho các trường hợp hạ đường huyết
189
+ Trẻ có triệu chứng.
+ Glucose huyết < 1,4 mmol/L
+ Glucose huyết < 2,2 mmol/L (40mg/dL) sau khi đã được điều chỉnh
bằng chế độ ăn.
+ Trẻ không ăn được.
- Với mức Glucose < 1,4 mmol/L cần tiêm tĩnh mạch dịch glucose 10%,
2ml/kg trong 1 phút, sau đó truyền dịch.
- Tốc độ truyền đường ( GIR) 6 – 8 mg/kg/phút, truyền dung dịch có nồng
độ Glucose 10% liều duy trì 80- 120 ml/Kg/ngày.
+ Nên dùng 2 nồng độ đường ngoại biên là 10% và 12%.
+ Tốc độ dịch truyền là: Dung dịch Glucose 10%: 0,6 x CN x GIR
Dung dịch Glucose 12%: 0,5 x CN x GIR
- Theo dõi Glucose huyết 3 giờ/ lần cho đến khi đường được > 2,6
mmol/L ở 2 lần xét nghiệm liên tiếp.
- Nếu Glucosse còn thấp, tăng dần lượng dịch hoặc nồng độ Glucose.
Dịch có nồng độ glucose dưới 12,5% cho phép truyền TM ngoại biên, dịch
truyền có nồng độ Glucose trên 12,5% cần truyền TM trung tâm ( TMTT) , do
đó cần điều trị tại những cơ sơ y tế có thể đặt được TMTT.
4.2.3. Hạ đường huyết dai dẳng:
- Nếu kéo dài trên 2 ngày với tốc độ truyền đường đến 12mg/kg/phút, có
thể phải điều trị thuốc Diazocid hoặc Hydrocortisone và cần phải tìm căn
nguyên để điều trị (Xét nghiệm Insulin và cortisol máu trước khi điều trị
Glucocorticoid).
Liều Hydrocortisone 5 mg/kg/ngày, chia 2 lần, tiêm TM hoặc uống.
- Glucocagon: có thể cần ( hiếm) khi đã sử dụng Glucocorticoid mà không
hiệu quả.
- Việc sử dụng Diazocid hoặc Glucagon cần được hội chẩn với chuyên
khoa nội tiết .
4.2.4. Theo dõi khi Glucose huyết bình thường
- Nếu Glucose huyết thanh ổn định với điều trị truyền TM:
+ Bắt đầu cho ăn 20ml/Kg/ngày
+ Tăng dần lượng ăn và giảm dần dịch truyền cho đến khi ăn được hoàn
toàn.
190
- Kiểm tra Glucose huyết sau mỗi khi thay đổi điều trị, lưu ý kiểm tra
đường huyết trước ăn.
4.3. Điều trị theo nguyên nhân
Trường hợp hạ đường huyết dai dẳng với nhu cầu tốc độ truyền đường
trên 8 mg/kg/phút kéo dài trên 1 tuần cần có hội chẩn với chuyên khoa nội tiết
để có điều trị thích hợp cho những trường hợp hạ đường huyết do một số nguyên
nhân không thường gặp.
Nguồn: Bộ y tế